Hán ViệtReaderTrung → Việt · Hybrid AI
Chương 3/96 · 0%
Lâm Cao Khởi Minh

Chương 3

Chương 3: Tác phẩm đồng nhân về Đạo Giáo mới của Trương Ứng Trần

Dưới đây là một số bài viết do Tiêu Tử Sơn trên Long Không Luận Đàn — nhân vật phụ trong truyện mang tên Đạo Tuyền Tử (tức Trương Ứng Trần) — sáng tác. Người sáng lập lý niệm Tân Đạo Giáo tại Lâm Cao:

**Trích nhật ký của Trương Ứng Trần:**

Đại hội sắp khai mạc. Tôi đã liên tục mấy ngày liền viếng thăm các chùa miếu tại vùng Lâm Cao. Rõ ràng, các hoạt động tôn giáo ở địa phương này vẫn chưa đi vào nề nếp. Các chức sắc Đạo Giáo và Phật Giáo đều có địa vị cực kỳ thấp tại đây; bản thân họ cũng chẳng đạt được phẩm chất cần thiết của một người làm công việc tôn giáo chuyên nghiệp. Ngoài việc tụng đọc bảo quyển ra, họ gần như hoàn toàn thiếu hụt những tố chất cơ bản của một tu sĩ chính thống — dù là phóng diệm khẩu hay lễ sám hối, đều không thông thạo; hơn nữa, một bộ phận lớn trong số đó còn mù chữ.

Chất lượng thấp kém của giới chức sắc Đạo – Phật đã mở ra khoảng trống hoạt động rất lớn cho các tín ngưỡng dân gian tại Lâm Cao, đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi vô cùng cho sự phát triển của Giêsu Hội.

Sau khi diện kiến Lâm Cao Tu Hội và Ngô Viện Trưởng, tôi càng thêm tin chắc rằng nếu Lâm Cao Giáo Hội cứ phát triển mà không bị kiểm soát, cuối cùng nó sẽ giành được vị thế quốc giáo dưới triều đại của nhóm Xuyên Việt Giả.

Thế nhưng phần lớn Xuyên Việt Giả chúng ta dường như chưa nhận thức được ý nghĩa thực sự của một quốc giáo. Đúng vậy, hiện tại tập thể Xuyên Việt Giả chúng ta là một nhóm tinh anh chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi chủ nghĩa vô thần, và Lâm Cao Giáo Hội — vốn chịu sự quản chế của Tôn Giáo Văn Phòng — thì ở bất kỳ phương diện nào cũng không thể so sánh với tập thể Xuyên Việt Giả. Nhưng trong thế kỷ XVII này, nơi giáo dục phổ cập chưa được triển khai và tư tưởng duy vật còn chưa lan rộng, rõ ràng giáo hội sẽ có ảnh hưởng sâu rộng hơn nhiều so với nền giáo dục do chúng ta xây dựng.

Chính chúng ta có thể miễn nhiễm trước những lời lẽ mê hoặc ấy, nhưng con cháu chúng ta, thần dân chúng ta thì sao? Rõ ràng, chúng ta sẽ không dùng chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa duy vật hay bất kỳ lý thuyết nào của xã hội công nghiệp để ảnh hưởng tới đa số họ. Thực tế, như biểu hiện của đa số thành viên Tương Dấm Đảng — lực lượng chiếm ưu thế tuyệt đối trong Nữ Phục Cách Mạng — cho thấy họ thậm chí còn chẳng quan tâm đến vấn đề này.

Có thể dự đoán rằng vài chục năm sau, Lâm Cao Giáo Hội sẽ trở thành một lực lượng có tiếng nói举足轻重 trong xã hội; và khi thế hệ Xuyên Việt Giả già đi, ảnh hưởng của nó còn tiếp tục mở rộng, thậm chí phản噬 ngược lại chính chế độ do chúng ta dựng nên.

Tôi nghĩ, chúng ta cần một thế lực cân bằng đối trọng với Lâm Cao Giáo Hội — để kiềm chế cái “quái vật” do chính tay chúng ta tạo ra đang độc bá một phương. Có lẽ, đây chính là sứ mệnh mà Thượng Thiên đã giao phó cho tôi chăng?

**************************************************

Từ thời cận đại trở đi, các phái Toàn Chân, Chính Nhất mà chúng ta thấy đều là mô hình chuẩn mực của Thần Tiên Đạo Giáo. Nhưng nếu truy nguyên về những đạo phái cổ nhất như Thiên Sư Đạo và Bình Thạnh Đạo, rồi chú ý đến « Bình Thạnh Kinh » và « Tưởng Nhĩ Chú », ta sẽ nhận ra rằng Đạo Giáo nguyên thủy vốn chẳng mấy mặn mà với đủ loại thuật luyện đan, dưỡng khí, dẫn khí, tồn thần, quán tưởng nhằm cầu tiên.

Ví dụ, « Tưởng Nhĩ » từng phê bình các phương thuật thời bấy giờ như hô hấp, dẫn khí, tồn thần, quán tưởng là “giả thuật”, gọi các đạo phái thờ cúng quỷ thần là “giả đạo”, còn « Tưởng Nhĩ Chú » thì đề xướng giữ giới để gần đạo. Thế nhưng Thiên Sư Đạo nhanh chóng hòa nhập với Quỷ Đạo ở Ba Thục, dung nạp hàng loạt phù chú, pháp thuật — những thứ vốn dĩ nó từng phản đối. Một kiểu tiến hóa tôn giáo “đánh cờ đỏ chống cờ đỏ” như thế này, thực ra cũng xuất hiện tương tự trong nhiều giáo phái thời Trung Cổ.

Chẳng hạn, Cơ Đốc Giáo chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng dị giáo La Mã, bắt đầu thu nhận các vị thần dân tộc châu Âu làm thánh nhân; Hồi Giáo ở Nam Á và Trung Á vẫn giữ lại việc sùng bái linh hồn theo truyền thống Sa Man; còn Phật Giáo Ấn Độ truyền vào Trung Nguyên thì kết hợp với tư tưởng Đạo Gia mà sinh ra Thiền Tông — phái “hát Phật mắng Tổ”.

Ngay cả Bạch Tư Đốc thuộc Tôn Giáo Văn Phòng và Ngô Viện Trưởng, khi truyền đạo Cơ Đốc, cũng buộc phải dung hòa với phong tục Đại Minh.

Giáo lý bị dị hóa bởi nền văn minh ngoại lai — đây là vấn đề tất yếu trong công tác truyền giáo. Dẫu vậy, dù nhóm Lâm Cao chúng ta sở hữu tri thức và kinh nghiệm lịch sử vượt xa thời đại này, tiếc thay vấn đề ấy vẫn không thể tránh khỏi. Nhưng tư tưởng Lâm Cao nhất định sẽ thay thế tư tưởng cũ, tôn giáo Lâm Cao nhất định sẽ thay thế tôn giáo cũ — dù là Công Giáo La Mã, Chính Thống Giáo, Phật Giáo hay Đạo Giáo truyền thống — tất cả đều bị tôn giáo Lâm Cao thay thế. Đây là một cuộc chiến ý thức hệ vĩ đại, nơi không có chỗ cho sự ôn tồn, khoan dung hay lễ độ nhường nhịn.

Nhìn lại lịch sử, các biện pháp hành chính thông thường không thể tiêu diệt hoàn toàn tôn giáo cũ; chỉ khi một dân tộc hoàn toàn quy y tôn giáo mới, họ mới thật sự cắt đứt mối liên hệ với tôn giáo cũ. Nói cách khác, chỉ có tôn giáo mới có thể tiêu diệt tôn giáo.

Nhiệm vụ của Đạo Giáo Nghị Sự không phải là tiêu diệt hoàn toàn các giáo phái cũ, mà là thông qua việc tiếp cận tín đồ, đoàn kết tín đồ, phát động tín đồ — từ đó cô lập hoàn toàn các quan chủ đạo quán, tăng chủ chùa chiền, đạo quan, tăng quan; phá tan toàn bộ mô hình và chế độ tôn giáo cũ, xây dựng một giáo phái mới phục tùng tập thể Xuyên Việt Giả…

— Trích từ bài phát biểu tóm tắt của Chủ tịch Đạo Giáo Nghị Sự Trương Ứng Trần tại Hội thảo đầu năm của Tôn Giáo Văn Phòng

***********************************************

Cha Lý Ma Đậu luôn kiên định tin rằng trên mảnh đất cổ xưa này vẫn còn lưu dấu ân sủng của Chúa chúng ta. Điều đáng tiếc là khi Cha Tăng Đức Chiếu tham gia khai quật và dịch bia đá thiêng liêng do hoàng đế nhà Đường dựng lên để tôn vinh Chúa Giê-su cách đây một ngàn năm (tức Đại Tần Cảnh Giáo Trung Quốc Lưu Hành Bia), Cha Lý Ma Đậu đã không còn kịp chia sẻ niềm vui khi Chúa Giê-su, qua bàn tay của các Phân Mỵ Huynh Đệ, để lại thánh tích nơi đế quốc này.

Thế nhưng tôi tin rằng Thiên Chúa toàn năng đã sớm ban ơn mặc khải cho các bậc hiền triết cổ đại Trung Hoa theo cách riêng của Ngài. Chỉ vì những tín đồ của Bỉ Đạt Cổ La Tư tại Ấn Độ — mà Giêsu Hội từng coi Phật Giáo và Ấn Độ Giáo là chi nhánh của bí giáo Hy Lạp do Bỉ Đạt Cổ La Tư sáng lập — đã dùng những luận điệu sai lầm và dị đoan độc hại để làm ô nhiễm phúc âm của Chúa.

Điều này khiến các triết gia Nho Giáo dần đánh mất lý tưởng cao thượng của tổ tiên mình; còn ảnh hưởng của Bỉ Đạt Cổ La Tư đối với một nhánh triết gia khác vốn được mặc khải thì gần như không thể cứu vãn. Những học giả vốn đáng được cư ngụ trong vườn hoa hồng hạnh phúc tối thượng ấy, nay lại sa đọa thành những nhà luyện kim thuật và kẻ sùng bái tượng thần giống như phái Nô-xtơ-giê.

Khi các nguyên lão bác học Lâm Cao bàn về tình trạng đế quốc cũ, họ thường cho rằng người Đà Xa Đát phương Bắc là kẻ thù lớn nhất đối với nền văn minh và đức tin. Họ nhắc đến Hùng Nông Vương Á Tì La, nhắc đến triều đại Đà Xa Đát mà Mã Khắc Ba Lô từng phục vụ, và bày tỏ nỗi đau xót khi nền văn minh vĩ đại cổ xưa bị các dân tộc du mục tàn phá.

Là một nhóm quý tộc hậu duệ triều đại tiền nhiệm lưu vong hải ngoại, triều đại “Nguyên” là điều không thể tha thứ. Nhưng đối với tôi — một giáo sĩ ngoại quốc — tội ác đáng ghét nhất của người Đà Xa Đát lại nằm ở chỗ họ dùng những tư tưởng có hại do tín đồ Bỉ Đạt Cổ La Tư tại Ấn Độ truyền bá, để đầu độc hai con đường cứu rỗi vốn thuộc về người Trung Hoa — khiến những kinh điển trí tuệ được ân sủng và mặc khải của Nho Giáo và Đạo Giáo cuối cùng biến thành những điều lệ cứng nhắc trong tay giới quan lại “Mạn Đa Lân”, và những đạo sĩ chỉ biết luyện kim thuật, vẽ phù chú — những học thuyết dị đoan độc hại cho linh hồn.

Thế nhưng ân sủng của Chúa Kitô đã khiến lãnh tụ ưu tú nhất của họ, vào lúc những kẻ dị giáo man rợ gần như hủy diệt mặt sáng nhất, vinh quang nhất của quốc gia này, dẫn dắt những người ưu tú nhất tìm đến một Giê-ru-sa-lem mới — giống như vị tiên tri trong sách Xuất Hành. Tại đó, họ giữ gìn được ân sủng của Chúa, cũng như giữ trọn đạo đức, truyền thống, tri thức và danh dự vẻ vang nhất của mình.

Họ cũng giữ lại tôn giáo riêng của mình — nhưng tôn giáo ấy không hề bị những học thuyết có hại từ Ấn Độ đầu độc. Trong đó chứa đựng vô số yếu tố hợp lý chứng minh rằng nó từng bao hàm con đường cứu rỗi của Chúa Giê-su, và cũng chính là mảnh đất màu mỡ nhất để hạt giống Chúa Kitô nảy mầm, đơm hoa, kết trái.

……

————————————————————————---

Ba mươi năm sau khi bộ sách đồ sộ này ra đời, Đế Quốc và Giáo Hội Ý đã nổ ra cuộc “Lễ Nghĩa Chi Tranh” nổi tiếng. Vị giáo hoàng phản động, bảo thủ và ngu muội — Vị La Mã Giáo Đình Khắc Lê Mông Mười Một Thế — đi ngược dòng chảy lịch sử, liều lĩnh tuyên bố « Đại Đế Quốc Ký » là sách cấm, đưa vào Danh Mục Sách Cấm Châu Âu. Phong trào Đông học Tây tiễn mang tính lịch sử ấy cũng vì loạt hành động phản động của ông mà rơi vào thoái trào, từ đó khiến châu Âu dần tụt hậu so với xu thế phát triển chung của nhân loại.

— Dẫn ngôn chương « Đại Đế Quốc Ký » trong Danh Mục Sách Cấm của Vị La Mã Giáo Đình

****************************************************

Thư Trương Ứng Trần gửi Hà Oánh trước khi rời đi

Khi Hà Oánh nhận được thư của Trương Ứng Trần, vị lang y Mông Cổ cao lớn này đã lên tàu rời đi khu mỏ.

Cầm tờ giấy này — thứ mà gọi là thư riêng thì chẳng đúng bằng gọi là kế hoạch công việc — Hà Oánh không khỏi khâm phục lòng can đảm và sức hành động của tên “thần côn” này.

Anh ngồi xuống, trải tờ thư ra, từ tốn đọc những lời nhắn nhủ cuối cùng của vị tế tử đầu tiên kiêm Chủ tịch Hiệp Hội Đạo Giáo Lâm Cao.

“… Va chạm giữa các nền văn minh dị chất thường dẫn đến kết quả là tiên tiến tiêu diệt lạc hậu, văn minh tiêu diệt man rợ. Vì thế, trong thời đại này, Giêsu Hội dễ dàng tiêu diệt các thầy tế Maya ở Nam Mỹ; lùi ngược ba trăm năm, Hồi Giáo và Phật Giáo Tây Tạng nhẹ nhàng khiến hai nhánh người Mông Cổ quy y. Nhưng va chạm tất yếu dẫn đến giao thoa, và đối với tôn giáo, việc bị truyền thống cũ của tín đồ mới thấm nhuần cũng là điều khó tránh.

“Đồng chí Ngô Mạn Thạch dường như muốn tiến hành một thí nghiệm xã hội đổi phong tục tại Lâm Cao — giống như những giáo sĩ Giêsu Hội ở Macao đang thử nghiệm việc xây dựng các nhà thờ Thánh Mẫu có dạng miếu Tống Tử Quan Âm. Việc này đã được các giáo trưởng Hồi Giáo tại Trung Á và Đông Nam Á, các tu sĩ Giêsu Hội, Đa Minh Hội, Phanxicô Hội tại Nam Mỹ thử nghiệm. Thế nhưng, không ngoại lệ, tất cả đều thất bại thảm hại.

“Người du mục Trung Á vẫn tin tưởng thầy phù thủy Sa Man, người Hồi Giáo ở Phi Luật Tân vẫn sùng bái cây thánh, các nữ thần Maya và Inca tiếp tục chiếm giữ vị trí trung tâm trong các nhà thờ Nam Mỹ dưới hình dáng Qua Đa Lộ Phu Thánh Mẫu. Có thể dự đoán rằng, trong công tác tương lai của Tôn Giáo Văn Phòng, việc chống lại sự xâm thực của văn hóa cũ sẽ là một nhiệm vụ dài hạn và gian khổ.

“Vì thế, cải đạo, cải tín, đổi phong tục chỉ là bước công việc sơ khởi — như Cha Lý Ma Đậu từng nói: ‘Đây mới chỉ là việc chặt bỏ một vài nhánh gai trên mảnh đất hoang đầy gai góc’.

“Chỉ khi tái tạo hoàn toàn môi trường sống của xã hội cũ và văn hóa cũ, chúng ta mới thực sự đạt được mục đích.

“Mục đích cuối cùng của việc cải tạo tín ngưỡng là cải tạo nền văn minh — tức là chuyển đổi nền văn minh nông nghiệp thời Trung Cổ sang nền văn minh công nghiệp hiện đại. Tôi hy vọng tôi và những người kế nhiệm sẽ luôn ghi nhớ điều này, chứ đừng ngu ngốc sa vào chủ nghĩa giáo điều, vào thứ chủ nghĩa sùng bái giáo điều tự đóng kín và thụt lùi.

“Thứ thuốc phiện tôn giáo kiểu thời Trung Cổ — khiến dân chúng ngu muội — trong ngắn hạn có lợi cho chúng ta, nhưng về lâu dài, chúng ta phải thoát khỏi phong cách Thiên Chúa Giáo, chuyển từ đầu tư ngắn hạn kiểu ‘kéo đầu dê’ sang đầu tư dài hạn, bền vững.

“Giáo hội phải đảm nhận nghĩa vụ giảng dạy. Ngoài việc truyền đạt giáo dục ý thức hệ dưới hình thức tôn giáo, giáo dục cơ bản mới là trọng tâm công việc của chúng ta. Cuộc tranh luận vô vị giữa tăng lữ, giáo sĩ và nho sĩ cuối đời Minh về ‘dịch danh Thiên Chúa’, về ‘địa ngục thiên đường’, về ‘sự khác biệt giữa Thái Nhất, hỗn độn, Thái Cực, Lý và Thiên Chúa’ — thực chất chỉ là cuộc tranh giành tính chính thống và quyền phát ngôn giữa một hệ triết học Trung Cổ châu Âu và một hệ triết học Trung Cổ châu Á.

“Công việc của chúng ta không phải là du nhập một thứ thuốc phiện mới để dễ bề cai trị, mà là làm chất xúc tác giúp xã hội cũ chuyển hóa thành xã hội mới. Chúng ta cũng không muốn sáng lập một thứ hàng giả ‘chai mới rượu cũ’, dùng thần mới thay thần cũ, mà là dùng bàn tay thần mới từng bước xói mòn nền tảng tồn tại của thần quyền. Sự thế tục hóa và giản lược hóa tôn giáo là biểu hiện tiến bộ của xã hội thế kỷ XVII; chúng ta phải dẫn dắt xu hướng mới này, chứ không phải phá bỏ nghi lễ cũ rồi lại dựng lên một bộ nghi lễ mới rườm rà, càng không phải biến chủ nghĩa sùng bái tự nhiên thành chủ nghĩa sùng bái cơ khí — một trò chơi vô vị và vô nghĩa.

“Suốt đời tôi, có lẽ tôi buộc phải thỏa hiệp với niềm tin của thế giới cũ; trong Lâm Cao Tu Viện có thể sẽ xuất hiện đủ loại dị đoan thế kỷ XVII; trong Đạo Giáo Nghị Sự có thể sẽ nảy sinh phái Chân Quân Giáng Lâm cực đoan phục cổ hoặc phiên bản Đạo Giáo của Kim Sắc Sớng Quang Hội. Nhưng nhất định phải nắm chắc công tác giáo dục — chỉ khi có một thế giới văn minh hoàn toàn thế tục hóa, chúng ta mới có thể chặt đứt tận gốc bóng ma thời Trung Cổ.

Hiện tại đừng bắt chước Tư Mã Giang Châu, khóc đến ướt đẫm áo xanh thì cũng quá xấu xí đấy! Hãy cùng tôi noi gương Vân Xuyên Thánh Nhân, dõng dạc hô một tiếng: ‘Hãy rót cho ta một chén rượu tiễn biệt!’ — rồi bước lên con đường mạo hiểm thuộc về tôi và các bạn.

Chúc tôi thuận buồm xuôi gió nhé, người bạn già!”

(Hết chương)