Hán ViệtReaderTrung → Việt · Hybrid AI
Chương 12/96 · 0%
Lâm Cao Khởi Minh

Chương 12

Chương 12: Đài Loan hay Hải Nam

Chọn địa điểm nào để xuyên việt? Đây không chỉ đơn thuần là một lựa chọn về vị trí, mà còn liên quan trực tiếp đến căn cứ khởi nghiệp của họ.

Một khởi đầu thuận lợi đồng nghĩa với việc đã nắm trong tay nửa thành công. Phần lớn các xuyên việt giả đều thích chơi game, nên thấu hiểu rõ một nguyên tắc then chốt trong các trò chiến lược: ngay từ giai đoạn đầu, phải chiếm được một vị trí căn cứ thật tốt. Đối với họ, căn cứ ấy cần đáp ứng những điều kiện sau:

1. Có nền tảng nông nghiệp vững chắc, đảm bảo nguồn lương thực dồi dào.

2. Dân số đủ lớn, đáp ứng nhu cầu lao động cho quá trình công nghiệp hóa trong tương lai.

3. Tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, đủ để phục vụ cho công nghiệp hóa.

4. Nằm ở khu vực ven biển, có cảng biển – bởi thương mại hàng hải chính là hình thức buôn bán dễ kiếm lời nhất trong thời đại này.

5. Không nằm trong vùng lõi cai trị của nhà Minh; nếu không, chắc chắn sẽ bị triều đình Minh tập trung lực lượng truy quét.

6. Không phải “đất tứ chiến”, tức là nơi giao tranh thường xuyên giữa các thế lực. Dù là Hậu Kim hay bọn Lý Tự Thành, Trương Hiến Trung thì cũng đều vượt xa khả năng đối phó của nhóm xuyên việt vừa đặt chân tới, chưa kịp đứng vững chân.

7. Dễ phòng thủ, có núi sông biển làm thiên hiểm.

Rõ ràng, trong không gian-thời gian mà họ sắp tiến vào, rất ít nơi hội đủ những điều kiện trên.

Để thận trọng, vấn đề này được đưa lên diễn đàn thảo luận nhằm tập hợp ý kiến rộng rãi.

Trên mạng, các phương án được đề xuất chủ yếu tập trung vào ba địa điểm: Đài Loan, Hải Nam và Á Châu.

Á Châu nhận được sự ủng hộ rất lớn – nhưng lại bị loại bỏ ngay từ đầu. Chưa bàn đến việc liệu Á Châu có thực sự phù hợp làm căn cứ xuyên việt hay không, thì thực tế hiện tại cũng hoàn toàn bất khả thi khi muốn đưa cả mấy trăm người xuyên việt sang Úc. Phương án này gần như không thể triển khai.

Đảo Đài Loan trở thành tâm điểm tranh luận sôi nổi. Xét về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên hay tiềm năng phát triển, Đài Loan đều xứng đáng là lựa chọn hàng đầu. Trên đảo lúc ấy chưa tồn tại cơ cấu hành chính của nhà Minh; dù Hà Lan và Tây Ban Nha đã xây dựng thành trì, nhưng mỗi bên chỉ kiểm soát được một góc nhỏ, phần lớn lãnh thổ vẫn là “khu vực trống rỗng”. Thế nhưng bệnh nhiệt đới ở Đài Loan rất nghiêm trọng, đặc biệt là bệnh sốt rét, khiến việc di dân gặp nhiều trở ngại. Đến cuối đời Minh, mức độ khai phá đảo còn rất thấp, dân số cực kỳ thưa thớt – muốn tiến hành khai phát quy mô lớn thì chẳng có nhân lực nào để dựa vào.

So sánh với Đài Loan, Hải Nam lại có nhiều ưu thế hơn hẳn. Từ thời Lục Triều bắt đầu khai phá, đến cuối đời Minh, nơi đây đã trở thành một quận huyện biên cương với hàng chục vạn hộ dân đăng ký đầy đủ. Riêng năm Vĩnh Lạc thứ mười, chỉ riêng cư dân Hán đã có tới chín vạn hộ đăng ký, tổng dân số đạt bốn mươi vạn người – nguồn nhân lực dồi dào. Về nông nghiệp, đến năm Vạn Lịch thứ bốn mươi ba, toàn đảo đã có tới bốn triệu một trăm ngàn mẫu ruộng công và tư.

Điều quý giá hơn nữa là tài nguyên thiên nhiên không chỉ phong phú mà còn đa dạng, rất thích hợp cho công nghiệp hóa. Toàn đảo có tới 88 loại khoáng sản (kể cả các biến thể), trong đó 67 loại đã được xác định có giá trị khai thác công nghiệp; vàng, quặng sắt giàu, quặng titan và zircon là những khoáng sản thế mạnh.

Trong thời kỳ tiền công nghiệp, than và sắt là hai yếu tố then chốt. Hải Nam sở hữu một trong những mỏ sắt giàu lớn hiếm có của Trung Quốc – mỏ Thạch Lộc. Hàm lượng sắt trung bình trong quặng đạt 51%, trữ lượng lên tới bốn trăm triệu tấn, lại đi kèm nhiều loại khoáng sản khác. Đặc biệt quý giá là mỏ Thạch Lộc gần như lộ thiên – chỉ cần bóc lớp đất mặt là có thể khai thác, không cần hệ thống hầm lò tốn kém.

Về than đá, Hải Nam chỉ có than nâu chất lượng kém, nhưng chỉ cần vượt qua vịnh Bắc Bộ là tới mỏ than Quảng Ninh Hồng Cơ ở Việt Nam. Trong không gian-thời gian này, mỏ lộ thiên đã có trữ lượng hai trăm triệu tấn, còn than đá chất lượng cao không khói dưới lòng đất lên tới hàng chục tỷ tấn. Mỏ nằm sát bờ biển, vận chuyển bằng đường biển cực kỳ thuận tiện.

Có than và sắt, ta có thể sản xuất thép quy mô lớn; có thép, ta mới có thể cơ giới hóa mọi ngành nghề, rồi sản xuất hàng loạt các sản phẩm công nghiệp.

Xã hội cổ đại có thể tạo ra những kiệt tác nghệ thuật khiến người đời kinh ngạc, nhưng tuyệt nhiên không thể cạnh tranh nổi với sức mạnh “sóng thần” của nền sản xuất hàng loạt trong xã hội công nghiệp.

Nếu nói Hải Nam có nhược điểm nào khi làm căn cứ xuyên việt, thì đó chính là vị trí quá gần đại lục – khiến triều đình Minh kiểm soát nơi này khá chặt chẽ. Ngoại trừ vùng núi sâu trong nội địa do người Lê sinh sống, phần lớn đảo đều thuộc “vùng chịu ảnh hưởng văn hóa vương triều”.

Một phủ huyện đã đăng ký hộ khẩu đầy đủ suốt nhiều thế kỷ như vậy, triều Minh sẽ không dễ dàng từ bỏ. Họ chắc chắn sẽ dốc toàn lực trấn áp những kẻ ngoại lai đầy tham vọng – dù chúng là “Bố Ninh mới”, “Á Châu” hay những người đến từ một không gian-thời gian khác.

Ngay từ đầu, các xuyên việt giả sẽ phải đối mặt với cuộc thảo phạt của quân đội địa phương và quân đội Quảng Đông, và chỉ khi vượt qua được thử thách này, họ mới có thể đứng vững chân.

Hải Nam còn tồn tại mâu thuẫn lâu dài giữa người Lê và người Hán. Từ thời Nguyên trở đi, gần như toàn đảo cứ ba năm lại bùng nổ một lần khởi nghĩa người Lê. Gần ba mươi năm trước thời điểm xuyên việt của họ (năm 1627), vào năm Vạn Lịch thứ hai mươi bảy (1599), người Lê ở Định An do Mã Thỉ lãnh đạo đã nổi dậy, được người Lê ở Đán Châu, Nha Châu và Lâm Cao hưởng ứng; triều Minh phải điều động tới mười vạn đại quân mới dập tắt được.

Làm sao để hòa hợp với người Lê bản địa – đây lại là một bài toán nan giải khác.

Cuối cùng, Hải Nam từ xưa đến nay vốn là nơi cướp biển hoành hành dữ dội. Nhiều huyện thành trên đảo thậm chí không xây cửa bắc. Thời kỳ cuối Minh, vùng biển phía nam Trung Quốc là sân chơi của đủ loại thương nhân và hải tặc Trung – Ngoại, ai cũng tìm cách tranh giành quyền lực và lợi ích. Dù là thương nhân hay hải tặc, hễ có cơ hội cướp bóc thì đều không buông tha. Hải Nam nằm ngay trên tuyến giao thông hàng hải trọng yếu, nên từ lâu đã chịu tổn thất nặng nề vì tình trạng này. Có thể tưởng tượng, đoàn xuyên việt mang theo vô số công cụ và vật dụng hiện đại sẽ giống như một con “bò béo” khiến mọi phía đều thèm muốn và sẵn sàng ra tay.

Như vậy, dù nền tảng của Hải Nam tốt hơn Đài Loan, nhưng áp lực mà họ phải đối mặt cũng lớn hơn nhiều.

“Xem ra, vẫn nên chọn Đài Loan.” Trong buổi họp trực tuyến, sau khi nghe Ủy ban Thường vụ trình bày một số tình hình về Hải Nam, có người đề nghị: “Đài Loan có sốt rét, chúng ta có thể mang theo quinin, hoặc trồng cây kim kê nạp ở đó. Còn về dân số, cuối đời Minh lưu dân khắp nơi, chỉ cần dùng lương thực và đất đai làm mồi nhử, đưa vài chục vạn người sang là chuyện nhỏ.”

“Đưa vài chục vạn người sang? Nói thì dễ, nhưng lấy gì mà chở?” Ngay lập tức có người phản bác.

“Dùng tàu chứ sao! Chúng ta có thể xuyên việt một chiếc tàu vạn tấn, chở hết người và hàng hóa lên. Cả một bá chủ biển cả, cần gì đại bác – thấy ai không vừa mắt thì lao thẳng vào đâm cho nó tan xương!”

“Định đốt rượu cồn hay than củi cho nó chạy à?”

“Tự đóng tàu thôi! Ở Đài Loan gỗ nguyên liệu chất lượng cao thì thừa!”

“Ừ thì được, vậy anh bảo thủy thủ đâu?”

“Tự đào tạo! Rồi sang Macao tuyển thủy thủ nước ngoài làm giáo viên.”

“Cười chết! Thế thuyền của Trịnh Thành Công cũng nhờ người nước ngoài lái à? Tôi ghét nhất kiểu người sùng bái ngoại lai như các anh!”

“Cây kim kê nạp trồng ở Đài Loan có sống được không?”

“Nếu theo cách anh nói thì bán đảo Lôi Châu cũng không thể trồng cao su, thế mà người ta vẫn trồng được!”

“Tôi đang nói Đài Loan, còn bán đảo Lôi Châu với Đài Loan có cùng vĩ độ đâu?!”

Khi chủ đề bắt đầu lan man sang chuyện “thuyền bảo” có phải là tàu gỗ vạn tấn hay không, rồi từ việc cây thanh hao có trị được sốt rét hay không mà dẫn tới tranh luận về việc “y học cổ truyền Trung Hoa có phải khoa học giả hay không”, Văn Đức Tự vội ngăn lại ngọn lửa nhiệt huyết đang bùng cháy của mọi người. Tiêu Tử Sơn xin phát biểu.

“Tôi nghĩ Hải Nam vẫn thích hợp hơn.” Tiêu Tử Sơn từ đầu đến giờ chưa hề lên tiếng. Trong lòng ông vốn ủng hộ kế hoạch chọn Hải Nam, nhưng không vội khẳng định, mà chờ mọi người tranh luận kỹ lưỡng về ưu – nhược điểm, đồng thời tự mình xếp hạng các vấn đề trong đầu – nên khi phát biểu, trọng tâm đã rõ ràng.

“Vì sao Hải Nam thích hợp hơn Đài Loan? Hãy so sánh với những tiêu chí chúng ta đặt ra cho căn cứ khởi nghiệp. Ở một số vấn đề then chốt, Đài Loan thua xa Hải Nam.

“Thứ nhất là nền tảng nông nghiệp. Việc khai phá thực sự của Đài Loan chỉ bắt đầu từ khi Trịnh Thành Công thu phục đảo, biến nơi đây thành căn cứ chống Thanh phục Minh – tức là vào khoảng giữa thế kỷ XVII. Còn năm chúng ta chọn là 1628. Lúc ấy, đảo gần như chưa có nền nông nghiệp nào đáng kể, chỉ có một vài thôn làng di dân ven biển khai hoang được chút ít đất đai. Hải Nam thì ít nhất đã có tới ba triệu tám trăm ngàn mẫu ruộng canh tác, cùng hàng chục công trình thủy lợi do các đời xây dựng. Lưu ý rằng con số diện tích ruộng này chỉ tính riêng phần đã đăng ký – còn thực tế, việc giấu ruộng thời Minh rất phổ biến.

“Về dân số, năm 1628 người Hán di cư tới Đài Loan rất ít. Các hoạt động xây dựng công – nông nghiệp quy mô lớn sau khi chúng ta xuyên việt đều cần một lượng lớn lao động. Dân số Đài Loan không đáp ứng được nhu cầu ấy, nên ngay từ đầu buộc phải nhập cư. Tuyển mộ lưu dân, tổ chức họ kéo cả gia đình đi hàng ngàn dặm, vượt phủ qua huyện, đến ven biển Phúc Kiến – Chiết Giang mới bố trí tàu chở sang. Đây là việc phức tạp và nặng nề, liên quan đến việc điều phối nhân lực – vật lực, ứng phó với các cấp quan lại nhà Minh… Trong số chúng ta, ai từng có kinh nghiệm và năng lực làm việc này?

“Giả sử chúng ta có thể đưa đủ lưu dân lên đảo, thì công việc hậu cần cũng vô cùng khó khăn. Lưu dân hầu như trắng tay, cần phòng dịch, cứu trợ, bố trí chỗ ở, cung cấp hạt giống, nông cụ… Tất cả những thứ ấy lấy từ đâu ra? Với thực lực sơ khai của chúng ta, làm việc lớn như vậy là bất khả thi. Trong khi đó, Hải Nam ít nhất đã có nền dân số bốn mươi vạn người – con số này hoàn toàn đủ đáp ứng nhu cầu phát triển giai đoạn đầu.”

Lúc này, phần lớn nhiệt huyết của mọi người đã tiêu tán sau những tranh luận vừa rồi, còn một số phát ngôn thiếu cân nhắc cũng khiến nhiều người cảm thấy khó chịu. Chính vì vậy, bài phát biểu có luận cứ rõ ràng, lập luận chặt chẽ và cách nói phù hợp của Tiêu Tử Sơn lập tức nhận được sự đồng tình của đa số. Sau cuộc biểu quyết, Hải Nam chính thức được xác định là căn cứ tương lai.

Vào cuối đời Minh, Hải Nam thuộc phủ Quỳnh Châu, quản hạt ba châu và mười huyện: Quỳnh Sơn, Trần Mại, Lâm Cao, Định An, Văn Xương, Lạc Hội, Đồng Hộ, Sơn Hóa, Lăng Thủy, Cảm Ân – mười huyện; cùng ba châu Đán Châu, Vạn Châu, Nha Châu.

Nếu mở cuốn “Địa đồ lịch sử Trung Quốc – phân册 Nguyên – Minh”, bạn sẽ thấy các châu huyện của Hải Nam nằm dọc theo toàn bộ bờ biển đảo, tạo thành một vòng tròn khép kín. Lịch sử từng ghi nhận tình trạng “người Lê ở phía nam, người Hán ở phía bắc” trên đảo, nhưng từ thời Tống trở đi,格局 đã đổi thành “người Hán ở ngoài ven biển, người Lê ở trong sâu nội địa”.

Trong số các châu huyện ấy, ba huyện Quỳnh Sơn – Trần Mại – Lâm Cao có lịch sử khai phá lâu đời nhất, là khu vực tập trung đông đảo người Hán và cũng là vùng nông nghiệp trọng điểm của đảo; một nửa dân số người Hán trên đảo sống tập trung tại đây.

Trong ba huyện này, huyện Quỳnh Sơn – tức phủ trị của phủ Quỳnh Châu – có điều kiện tự nhiên tốt nhất: cuối đời Minh, toàn đảo có 3.830.000 mẫu ruộng công – tư đã đăng ký, riêng huyện này chiếm gần một phần tư; dân số đăng ký nộp thuế gần chín vạn người.

Thế nhưng đây cũng chính là trung tâm chính trị – kinh tế của nhà Minh trên đảo, thường xuyên đồn trú một lực lượng quân đội lớn. Hơn nữa, nơi đây còn mang ý nghĩa biểu tượng về mặt chính trị: việc mất một phủ thành biên cương như Quỳnh Châu sẽ gây chấn động lớn cho triều đình Minh, chắc chắn sẽ dẫn tới một cuộc thảo phạt quy mô lớn.

Trần Mại tuy cũng khá tốt, nhưng lại nằm sát huyện Quỳnh Sơn, nên vẫn chưa thoát khỏi cái bóng của trung tâm cai trị Hải Nam dưới thời Minh.

Lâm Cao vì thế trở thành lựa chọn tối ưu.

Trong không gian-thời gian này, Lâm Cao chỉ là một huyện nhỏ bé, vô danh trên đảo Hải Nam, chẳng hề nổi tiếng như Hải Khẩu hay Tam Á, kinh tế lạc hậu, du lịch gần như bằng không – trừ những người yêu thích du lịch khám phá, còn lại hầu như không ai biết đến nơi này ở Hải Nam. Nếu dùng công cụ tìm kiếm trên mạng để tra từ “Lâm Cao”, phần lớn kết quả sẽ là một câu trong chiến dịch Giải phóng Hải Nam của Quân Giải phóng Nhân dân cách đây sáu mươi năm: “Quân Giải phóng Nhân dân đổ bộ đầu tiên tại Lâm Cao Giác.” Đúng vậy, Lâm Cao Giác nằm trong huyện Lâm Cao, cách huyện thành chưa đầy mười hai kilômét.

Dẫu vô danh, Lâm Cao lại là một huyện có lịch sử nghìn năm. Việc thiết lập huyện có thể追溯 đến năm Vũ Đức thứ năm đời Đường Thái Tông. Đây là một trong những vùng đầu tiên trên đảo đón nhận dòng di dân người Hán từ đại lục, nên lịch sử khai phá rất lâu đời. Lâm Cao tuy dân số không bằng Quỳnh Sơn, nhưng đến năm Vạn Lịch thứ bốn mươi lăm cũng đã có hai vạn năm ngàn dân đăng ký. Đồng bằng phù sa hai bên sông Văn Lan Giang được khai phá sớm, đã hình thành một nền tảng nông nghiệp nhất định. Nếu được bổ sung thêm các công trình thủy lợi, tiềm năng nông nghiệp của nơi đây là rất lớn. Trong không gian hiện tại, Lâm Cao chính là “vựa lúa – vựa cá” của Hải Nam.

Cuối cùng, Lâm Cao cách phủ Quỳnh Châu một huyện Trần Mại, nên bất kỳ biến động nào cũng sẽ không lập tức chịu áp lực trực tiếp từ chính quyền Minh. Với điều kiện liên lạc và hiệu suất hành chính của các triều đại phong kiến, việc xử lý một sự việc vượt châu – huyện thường mất ít nhất một tháng; ở Hải Nam, thời gian ấy chắc chắn còn kéo dài hơn nữa.

Sau chủ đề này, một số vấn đề khác cũng lần lượt được nêu ra, nhưng việc chọn Lâm Cao làm căn cứ khởi nghiệp cho hành trình xuyên việt đã không còn gây tranh cãi. Trong phần tổng kết hội nghị do Văn Đức Tự thực hiện, mọi người nhất trí đánh giá đây là “một hội nghị thành công, một hội nghị đoàn kết, một hội nghị thắng lợi”. Sau này, trong sách giáo khoa lịch sử thế giới mới, hội nghị này được gọi là “Đại hội xuyên việt lần thứ nhất”. Vì số đại biểu quá đông, lại có nhiều người cuối cùng chọn ở lại thế giới cũ, nên danh sách đầy đủ chỉ có thể tra cứu tại “Cự Thế Giới Đại Giáo Đường” – về mặt lý thuyết, danh sách này không được phép tra cứu.

(Hết chương)