Chiếc “nồi-đà-cơ” dùng để phát điện này ban đầu định lắp đặt tại Chủ Thành Khẩu, nhưng do mức độ ô nhiễm nghiêm trọng — tro bụi bay tứ tung, tiếng ồn lớn, lại thêm nồi hơi cần lượng nước rất dồi dào — nên cuối cùng vẫn được đặt tại Thủy Điện Khẩu. Để phòng chống lũ lụt, nền móng nơi đặt nhà máy nhiệt điện, phòng phân phối điện và trạm biến áp ở Thủy Điện Khẩu đã được nâng cao đặc biệt.
Dẫu sao, chiếc “nồi-đà-cơ” công suất lớn này cũng mang lại nhiều tiện ích cho Xuyên Nhập Chúng, song lượng nhiên liệu tiêu thụ mỗi ngày cũng đáng kể; chưa kể nồi hơi bắt buộc phải dùng nước mềm. Dùng nước cất chở từ tàu về để cấp cho máy thì quá xa xỉ. Nếu dùng nước thiên nhiên thì mưa là tốt nhất, nước sông tạm chấp nhận được, nhưng tốt hơn hết vẫn nên qua xử lý làm mềm. La Đạo nói có thể dùng chiết xuất súp lơ để làm mềm nước, thế nhưng nhất thời chẳng tìm đâu ra nguyên liệu. Cuối cùng, Vương Lạc Bình dựa vào kinh nghiệm sống ở nông thôn, đề nghị dùng nước sôi đã đun kỹ thay thế.
Đun nước sôi cho cái khổng lồ ấy quả thực nghe có phần hài hước. Trên bãi sông, người ta đào liền một hàng bếp lò, tháo hết nồi thuyền mang theo xuống để đun nước. Lửa bốc cao vút, khói trắng mờ mịt, cảnh tượng lúc ấy vô cùng tráng lệ. Xuyên Nhập Chúng lại lao vào công việc cắt cỏ, đốn gỗ; các đống củi chất cao như núi.
“Sao không dùng máy phát điện diesel?” Văn Đức Tự đứng trước cảnh tượng tráng lệ ấy mà chẳng chút xúc động nào. Trong mắt hắn, đây chẳng khác nào lãng phí thời gian và nhân lực. Đúng là “nồi-đà-cơ” không cần dầu, nhưng công sức bỏ ra để vận hành nó thì cũng chẳng thể gọi là tiết kiệm chút nào.
Việc vận hành “nồi-đà-cơ” công suất lớn đòi hỏi mặt bằng cứng — không chỉ riêng nền móng của chính chiếc máy, mà toàn bộ khu thành cũng cần tiến hành san lấp, gia cố mặt bằng, đặc biệt là khu nhà ở tạm và các tuyến đường trong thành sắp được xây dựng.
Xuyên Nhập Chúng hiện chưa có gạch, nhưng làm bê tông lại vô cùng thuận tiện: xi măng và thép đều chở theo tàu đến, đá thì ở Bách Nhẫn Thang muốn bao nhiêu cũng có — nơi này vốn là mỏ đá truyền thống của Lâm Cao, không chỉ cung cấp đá cho huyện nội mà còn bán sang các huyện lân cận. Sau khi Xuyên Nhập Chúng tới, những người thợ đá đều bỏ chạy, nhưng vẫn để lại rất nhiều khối đá đã khai thác và gia công sẵn, cùng vô số phế thải đá vụn trong mỏ. Còn cát thì đầy bãi sông, chỉ cần sàng qua là dùng được. Xi măng và máy trộn bê tông đã được vận chuyển từ Bạc Phổ tới. Làm bê tông còn cần khuôn gỗ. Ngô Quang Minh đã thiết lập một nhà máy cưa điện tại Bạc Phổ, có thể dễ dàng cắt ra các loại gỗ với mọi kích thước; chẳng mấy chốc, những tấm khuôn gỗ đã được làm xong và vận chuyển tới.
Sau khi hoàn tất việc gia cố mặt bằng cho nhà máy “nồi-đà-cơ”, Tổ Xây Dựng liền nhân đà tiến hành luôn cả dự án thủy điện — bởi cứ mỗi ngày đun nước nuôi nồi hơi như thế này thì chẳng thể nào kéo dài mãi. Hơn nữa, cùng với việc di dời các cơ quan văn phòng của Chủ Hội Ủy, khu nhà ở và xây dựng khu công nghiệp mới, nhu cầu sử dụng điện sẽ tăng vọt. Lúc ấy, lượng điện hiện có chắc chắn sẽ không đủ đáp ứng.
Tổ Năng Lượng trong kế hoạch quy hoạch năng lượng đã xác định Nhà máy Thủy điện Bách Nhẫn Thang là công trình trọng điểm, trên tay đã chuẩn bị đầy đủ bản vẽ thiết kế chi tiết. Thế nhưng sau cuộc họp bàn bạc với Tổ Xây Dựng, mọi người thống nhất nhận định rằng hiện tại chưa thể thi công theo đúng phương án này.
Nhà máy Thủy điện Bách Nhẫn Thang được khởi công sau Tết năm 1967 và hoàn thành vào cuối năm 1968, có đập ngăn sông dài chín mươi tư mét, cao bảy phẩy năm mét, kèm theo hệ thống cửa van, cống dẫn, kênh dẫn, máng dẫn nước, ống dẫn nước… Ngay cả ở Lâm Cao thế kỷ XX, đây cũng là một công trình lớn phải huy động cả huyện mới hoàn thành được: từ việc động viên hơn ba trăm cán bộ cơ quan, hơn một trăm kỹ sư và công nhân thủy điện, đến việc điều động hàng trăm dân công khắp huyện, thậm chí còn đặc biệt điều động hơn hai trăm phụ nữ ngư dân khỏe mạnh từ ba xã Đầu Chú, Hoàng Long và Khôn Xã để khiêng vác đá lớn. Tổng cộng đã huy động tới sáu mươi bốn ngàn ngày công, đào đắp năm mươi mốt ngàn tám trăm mét khối đất, xây đá năm nghìn một trăm mười mét khối, đổ bê tông sáu trăm ba mươi mét khối…
Những con số ấy đối với Xuyên Nhập Chúng chẳng khác nào thiên văn, nên toàn bộ bản vẽ đều đành tạm cất đi. Cuối cùng, mọi người quyết định chọn giải pháp đơn giản hơn: xây dựng một nhà máy thủy điện kiểu dẫn nước bằng kênh, lắp đặt một máy phát điện hai trăm kilowatt.
Phương án thiết kế đầu tiên là đào một kênh dẫn nước phía thượng lưu của thác nước chín tầng tại Bách Nhẫn Thang. Chiều rộng và chiều sâu của kênh dẫn được tính toán dựa trên lưu lượng nước và độ dốc — may mắn thay, các bảng số liệu sẵn có đều có thể tra cứu được. Kết quả cuối cùng xác định quy mô kênh dẫn là bề rộng đáy một phẩy năm mét, độ sâu nước một mét.
Kênh dẫn nước sẽ đưa nước vào Tiền Trại Áp Lực — một hồ chứa nối liền giữa kênh dẫn và ống dẫn áp lực. Hồ chứa này gồm tiền thất, lưới chắn rác, cửa van, buồng lấy nước, tràn xả và cửa xả cát.
Tiền Trại Áp Lực là một bộ phận trọng yếu của nhà máy thủy điện: không chỉ dùng để lắng cặn và chặn các vật trôi nổi, tránh chúng xâm nhập vào tua-bin gây hư hại, mà còn có tác dụng phân phối lưu lượng nước khi nhà máy có nhiều tổ máy. Ngoài ra, chức năng chủ yếu nhất của nó là điều tiết lưu lượng nước vào tua-bin.
Khi tải của nhà máy tăng lên, lưu lượng nước cần thiết cho tua-bin cũng tăng theo; lúc ấy, hồ chứa tiền thất sẽ bổ sung lượng nước thiếu hụt từ kênh dẫn, nhằm ngăn ngừa mực nước hạ thấp khiến không khí bị hút vào ống dẫn áp lực, làm giảm công suất tổ máy. Ngược lại, khi tải đột ngột giảm hoặc lượng nước thượng nguồn quá lớn gây lũ, lượng nước thừa trong kênh sẽ được xả qua tràn xả, tránh ảnh hưởng đến an toàn công trình.
Cửa van kênh dẫn dùng để điều tiết lưu lượng và đóng nước, được bố trí trong buồng cấp nước của Tiền Trại Áp Lực. Vì đây là một nhà máy thủy điện nhỏ, nên cửa van được quyết định làm bằng gỗ. Vương Lạc Bình, dựa trên những điều từng thấy và nghe kể ở nông thôn, đề cử loại cửa van hình cung bằng gỗ từng phổ biến trong thời kỳ * — khi mở dùng hệ thống ròng rọc và tời tay quay bằng gỗ, khi đóng nhờ mô-men trọng lực; kết cấu đơn giản, thao tác nhanh gọn, sử dụng cực kỳ thuận tiện.
Ống dẫn áp lực là một trong những khó khăn lớn nhất mà đội thi công gặp phải. Là bộ phận then chốt tạo ra cột nước áp lực để tua-bin làm việc, ống dẫn áp lực không chỉ phải chịu được áp lực cột nước, mà còn phải chịu được áp lực va thủy (water hammer) do dòng nước trong ống đột ngột ngừng lại khi đóng cánh hướng dòng của tua-bin hoặc đóng cửa van. Do đó, ống dẫn áp lực phải có độ bền cao, nếu không dễ xảy ra hiện tượng nứt vỡ ống.
Ở thời hiện đại, các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ thường dùng ống thép hoặc ống bê tông cốt thép. Ống thép khẩu kính lớn đương nhiên họ không có; còn ống bê tông cốt thép thì việc sản xuất không khó, nhưng lại tiêu tốn quá nhiều thép và xi măng — trong khi hiện tại họ chưa tự sản xuất được cả hai thứ ấy, mà nhu cầu sử dụng lại đang rất cấp bách ở nhiều nơi. Có người đề nghị dùng ống gốm, nhưng độ bền kéo của gốm quá kém, chỉ chịu được áp lực nước dưới mười mét là đã vỡ, nên chỉ phù hợp với các nhà máy thủy điện cột nước thấp; hơn nữa, chưa ai từng làm loại ống gốm khổng lồ như thế này, e rằng ngay tại Lâm Cao cũng chẳng ai biết cách nung — chứ đừng nói đến việc hiện giờ Xuyên Nhập Chúng vẫn chưa tìm ra một lò gốm nào, thậm chí lò gạch cũng chưa phát hiện.
Vương Lạc Bình suy nghĩ rất lâu, rồi đề nghị dùng ống gỗ. Loại ống gỗ này được ghép từ những tấm ván dày bốn đến sáu xăng-ti-mét, dùng vòng sắt siết chặt. Độ bền của nó còn vượt cả ống bê tông, có thể sử dụng ở cột nước dưới một trăm mét; trong khi ống bê tông chỉ dùng được ở cột nước dưới năm mươi mét. Nếu bảo dưỡng tốt, tuổi thọ của ống gỗ cũng không hề kém cạnh — dùng được từ mười đến hai mươi năm là chuyện bình thường.
Vấn đề gỗ thì tương đối dễ giải quyết: công việc đốn gỗ những ngày qua chưa từng gián đoạn. Dù thiếu thiết bị sấy khô, Ngô Quang Minh vẫn xây một lò sấy đất, dùng lá cây và cành khô hun chậm để làm khô gỗ. Phương pháp này tuy hiệu suất thấp và độ khô không đồng đều, nhưng ít ra cũng cung cấp đủ lượng gỗ dùng được.
Khó khăn nằm ở chỗ ghép ống từ các tấm ván — việc này giống như đóng thùng, mà nghề này vốn đã gần như thất truyền, huống chi là chế tạo ống gỗ có khẩu kính lớn như thế. Sau nhiều lần thử nghiệm bất thành, cuối cùng có người dùng phần mềm CAD để mô hình hóa và phân tích kích thước chuẩn của từng thanh gỗ ghép. Nhóm Gỗ nhìn bản vẽ chi tiết từng thanh, độ chính xác tới từng mi-li-mét, góc nghiêng cụ thể từng chi tiết, chỉ biết cười trừ — “Ở đây tôi đâu có máy cưa điều khiển số!”
Thế nhưng có số liệu rồi thì việc mò mẫm đã có định hướng rõ ràng. Dựa theo dữ liệu trên bản vẽ, sau vài ngày thử nghiệm, cuối cùng họ đã ghép thành công ống đầu tiên: dài bốn mét, đường kính ngoài bảy mươi xăng-ti-mét, bên ngoài siết chặt bằng vòng sắt. Sau thử nghiệm đơn giản bằng cách đổ nước vào, phát hiện độ bền ghép vẫn chưa đủ; nên khi làm ống thứ hai, họ tăng độ dày của cả vòng sắt lẫn ván gỗ. Sau khi thử nghiệm đạt yêu cầu, nhà máy cưa lập tức sản xuất ba mươi hai mét ống gỗ áp lực, trong đó mười hai mét dự trữ. Thực tế chứng minh việc dự trữ này là hoàn toàn cần thiết — trong quá trình thi công, hai ống đã bị loại bỏ.
Các mối nối giữa các đoạn ống được trát kín bằng vữa xi măng. Các trụ đỡ và trụ cố định giữa các đoạn ống thì xây bằng đá gắn vữa xi măng.
Dưới đáy ống dẫn áp lực chính là nhà máy phát điện. Nền móng của nhà máy yêu cầu rất cao, nên không tiếc công sức, người ta dùng bê tông vữa đá dăm; một phần dùng những thanh đá đủ mọi kích thước, không rõ công dụng, được thu thập từ mỏ đá.
Dẫu Mẫn Hoạn và Tổ Công Trình Kiến Trúc của hắn chưa từng xây nhà máy thủy điện bao giờ, nhưng các thiết bị điện cho nông thôn lại có sách hướng dẫn chi tiết, dễ hiểu. Một nhóm người giàu kinh nghiệm kỹ thuật nghiên cứu kỹ lưỡng, lại thêm mỗi người đều có ký ức về những nhà máy thủy điện từng tận mắt chứng kiến, nên việc nắm rõ phương pháp thi công cụ thể cũng chẳng khó khăn gì. Đào đất, đào mương, xây nhà máy, thậm chí dựng cột điện — tất cả đều làm thuần thục. Kênh dẫn nước là kênh đất, còn các công trình khác đều xây bằng đá gắn vữa xi măng.
Ở những đoạn địa chất đá, việc đào khá tốn sức, nhưng nhờ có máy nén khí và búa khoan khí nén nên cũng dễ dàng khắc phục. Ban đầu Chủ Hội Ủy còn cấp một ít amoni nitrat và dầu hỏa, dự phòng dùng trào dược khi cần thiết, nhưng Mẫn Hoạn cân nhắc rồi quyết định hạn chế tối đa việc dùng “vũ khí hạng nặng” này — bởi bọn họ chẳng ai có kinh nghiệm sử dụng trào dược trong thi công.
Vương Lạc Bình từng sống và làm việc nhiều năm ở vùng nông thôn Quảng Tây, nên rất am hiểu các công trình dân sinh nông thôn như thủy điện nhỏ. Gần đây, hầu hết các công trình đều do hắn phụ trách điều phối. Khi tuần tra công trường, hắn từ xa đã thấy một đám đông tụ tập quanh khu nhà máy thủy điện, dường như đang tranh luận điều gì đó. Khi tiến gần hơn, hắn nhận ra chủ yếu là những người thuộc Tổ Xây Dựng và đội thi công trực thuộc: một người là trưởng tổ Mẫn Hoạn, người kia hắn có chút ấn tượng — chính là Trác Thiên Mẫn, người từng đề nghị xây đường tạm trước trong công trình xây dựng quốc lộ.
(HẾT CHƯƠNG)